Thứ Hai, 12 tháng 2, 2018

Miễn trách nhiệm đối với hành vi vi phạm hợp đồng thương mại trong trường hợp hành vi vi phạm của một bên hoàn toàn do lỗi của bên kia.

Lỗi được coi là một trong những yếu tố để xác định trách nhiệm dân sự. Lỗi này có thể là hành động hoặc không hành động của bên bị vi phạm. Về bản chất, thì các bên đều có hành vi vi phạm, tuy nhiên, sự vi phạm của một bên có nguyên nhân chủ yếu từ lỗi của bên bị vi phạm. Chẳng hạn, bên vi phạm đã làm theo một chỉ dẫn không rõ ràng của bên bị vi phạm dẫn đến thiệt hại. Trong trường hợp này, bên vi phạm đã được loại trừ lỗi cấu thành nên hành vi vi phạm, bên bị vi phạm sẽ chịu những rủi ro về thiệt hại này.


Kết quả hình ảnh cho Miễn nhiệm đối với hành vi vi phạm hợp đồng thương mại trong trường hợp hành vi vi phạm của một bên hoàn toàn do lỗi của bên kia.

Trường hợp miễn trách nhiệm này được quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 294 Luật thương mại 2005. Theo đó, nếu một bên vi phạm hợp đồng nhưng việc vi phạm mà là do lỗi của bên vi phạm thì bên vi phạm hợp đồng sẽ được miễn trách nhiệm đối với vi phạm đó. Như vậy, căn cứ để miễn trách nhiệm trong trường hợp này là phải do lỗi của bên vi phạm. Lỗi này có thể hành động hoặc không hành động. Tuy nhiên, Điều 294 mới dự liệu miễn trách nhiệm đối với bên vi phạm hợp đồng khi “Hành vi vi phạm của một bên hoàn toàn do lỗi của bên kia” mà chưa tính đến khả năng hành vi vi phạm của một bên có nguyên nhân xuất phát từ bên thứ ba, mà bên này rơi vào các trường hợp mà pháp luật quy định được miễn trách nhiệm. Đành rằng, các bên có thể thoả thuận về các trường hợp miễn trách nhiệm trong hợp đồng của họ. Nhưng trong trường hợp không được thoả thuận, đương nhiên bên vi phạm sẽ không được miễn trách nhiệm nếu do lỗi của bên thứ ba, mặc dù bên này rơi vào các trường hợp miễn trách nhiệm.
Tương tự với trường hợp trên, pháp luật thương mại hiện hành nói chung và điều 294 Luật thương mại 2005 nói riêng cũng chưa dự liệu trường hợp miễn trách nhiệm do một bên uỷ quyền cho bên thứ ba thực hiện một phần hoặc toàn bộ hợp đồng mà bên thứ ba này vi phạm nghĩa vụ trong một số trường hợp cụ thể. Điều này đã được giải quyết khi Việt Nam là thành viên của công ước viên về Công ước Viên về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế của Liên hợp quốc (CISG).Cụ thể theo Ðiều 79 của CISG, có quy định nếu một bên không thực hiện nghĩa vụ của mình do người thứ ba mà họ nhờ thực hiện toàn phần hay một phần hợp đồng cũng không thực hiện điều đó, thì bên ấy chỉ được miễn trách nhiệm trong trường hợp bên vi phạm hợp đồng được miễn trách nhiệm chiếu theo quy định của công ước và người thứ ba cũng sẽ được miễn trách nếu các quy định của công ước được áp dụng cho họ.


Trường hợp miễn trách nhiệm đối với hành vi vi phạm của một bên hoàn toàn có lỗi của bên kia đã trao cho các chủ thể quyền được đối xử công bằng. Khi một bên không thực hiện các nghĩa vụ của mình thì bên kia cũng có quyền đó. Đảm bảo được quyền tự quyết đồng thời quyền tương đương với nghĩa vụ mà mình phải thực hiện. Nguyên tắc này cũng là một trong những nguyên tắc của Luật quốc tế, đặc biệt có ý nghĩa trong thương mại quốc tế như tại Công ước viên năm 1980 quy định tại Điều 80 “một bên không được viện dẫn một sự không thực hiện nghĩa vụ của bên kia trong chừng mực mà sự không thực hiện nghĩa vụ đó là do những hành vi hay sơ xuất của chính họ”, như vậy, Luật thương mại 2005 đã có bước hội nhập với Luật quốc tế trong trường hợp này, đảm bảo được các quyền lợi cho chủ thể trong hoạt động thực hiện hợp đồng thương mại quốc tế. Tuy nhiên, việc quy định của Luật thương mại 2005 về việc dự liệu hành vi vi phạm của một bên hoàn toàn do lỗi của bên kia để xét miễn trách nhiệm cho bên vi phạm tuy nhiên lại chưa tính đến khả năng vi phạm của một bên xuất phát từ bên thứ ba, mà bên này lại có thể rơi vào các trường hợp mà pháp luật quy định được miên trách nhiệm. Như vậy, các bên có thể có thỏa thuận về các trường hợp miễn trách nhiệm của họ nhưng trong trường hợp không được thỏa thuận, đương nhiên bên vi phạm sẽ không được miễn trách nhiệm. Bên cạnh đó, pháp luật thương mại hiện hành nói chung và Điều 294 Luật thương mại 2005 nói riêng cũng chưa dự liệu trường hợp miễn trách nhiệm do một bên uỷ quyền cho bên thứ ba thực hiện một phần hoặc toàn bộ hợp đồng mà bên thứ ba này vi phạm nghĩa vụ trong một số trường hợp cụ thể.

Chủ Nhật, 11 tháng 2, 2018

Quy định vê trường hợp miễn trách nhiệm đối với hành vi vi phạm hợp đồng trong thương mại do sự thỏa thuận của các bên

Pháp luật thương mại đã dành quyền chủ động rất cao cho các bên tham gia hợp đồng trong thương mại cũng như đề cao tính tự do trong hợp đồng. Do vậy, các bên được quyền tự thỏa thuận các trường hợp miễn trách nhiệm khi giao kết hợp đồng thương mại theo nguyên tắc chung các điều khoản đó không trái với quy định của pháp luật. Xuất phát từ lí do đó, tại điểm a khoản 1 Điều 294 Luật thương mại 2005 quy định: “các bên sẽ không phải chịu trách nhiệm do vi phạm hợp đồng thương mại nếu có sự thỏa thuận của các bên về trường hợp đó được miễn trách nhiệm”.

Hình ảnh có liên quan

Có thể thấy rằng, quy định trên chỉ đơn giản là công nhận trường hợp miễn trừ trách nhiệm hợp đồng đã được các bên thỏa thuận trước mà không để ý tới trường hợp một trong các bên lợi dụng sự tồn tại của điều khoản miễn trừ trách nhiệm để vi phạm hợp đồng, để không phải chịu chế tài nào, từ đó dẫn tới hậu quả là sự bất bình đẳng giữa các bên trong hợp đồng thương mại.

Thỏa thuận giữa các bên về trường hợp miễn trách nhiệm phải tồn tại trước khi xảy ra vi phạm và có hiệu lực đến thời điểm bên bị vi phạm áp dụng chế tài. Khi hợp đồng được giao kết bằng văn bản, thì thỏa thuận miễn trách nhiệm được ghi nhận trong nội dung hợp đồng hoặc trong phụ lục hợp đồng. Nhưng kể cả khi hợp đồng đã ký kết các bên vẫn có thể thỏa thuận bằng lời nói hoặc hành vi cụ thể hoặc sửa đổi, bổ sung vào hợp đồng các trường hợp miễn trách nhiệm. Khi hợp đồng được giao kết bằng lời nói hoặc hành vi cụ thể thì thỏa thuận miễn trách nhiệm cũng có thể được thể hiện bằng lời nói hoặc hành vi cụ thể. Tuy nhiên, việc chứng minh sự tồn tại một thỏa thuận không bằng văn bản sẽ gặp những khó khăn nhất định. Thực tiễn trong giao kết hợp đồng thương mại cho thấy ít khi các bên chấp nhận việc thỏa thuận trực tiếp và rõ ràng về các trường hợp miễn trách nhiệm, vì có thể bên vi phạm sẽ vin vào điều này để không tuân thủ hợp đồng. Do đó, các bên có thể thỏa thuận gián tiếp miễn trách nhiệm ở một chừng mực nhất định.

Theo quy định trên, có thể thấy pháp luật đã tôn trọng quyền tự do thỏa thuận của các bên trong quan hệ hợp đồng nếu nó không trái với quy định pháp luật. Đồng thời, việc tự thỏa thuận này mặc dù không lường trước hết các trường hợp nhưng phần nào cũng giúp các bên tự giác tuân thủ theo hợp đồng mà không cần phải áp dụng tới chế tài. Tuy nhiên, thực tế lại gặp phải những khó khăn vì sẽ là căn cứ cho những chủ thể cố ý vi phạm thỏa thuận hợp đồng và gây thiệt hại cho chủ thể còn lại do đó cần đưa ra một cơ chế cụ thể để xử lý vấn đề này hoặc khi đưa ra thỏa thuận về miễn trách nhiệm hợp đồng thương mại các bên phải hết sức cân nhắc về vấn đề này.

Thứ Sáu, 9 tháng 2, 2018

Giá trị pháp lý của văn bản công chứng

Trong các giao dịch đơn thuần giữa các bên về dân sự cũng như trong hoạt động kinh doanh, thương mại, do sự thiếu am hiểu luật pháp, thiếu thông tin về tình trạng pháp lý của các đối tượng giao dịch của một hoặc cả hai bên… sẽ khiến cho các giao dịch chứa đựng rất nhiều rủi ro, dẫn đến những hậu quả bất lợi, những tranh chấp xâm hại đến quyền lợi ích của các bên tham gia giao dịch và cũng đẩy gánh nặng về phía cơ quan chức năng trong việc giải quyết những hậu quả này.
Công chứng là một dịch vụ công ích quan trọng, một thể chế không thể thiếu được của Nhà nước pháp quyền để đảm bảo giá trị pháp lý, sự an toàn của các giao dịch nói trên. Các văn bản công chứng có giá trị xác thực, giá trị pháp lý và độ tin cậy hơn hẳn các loại giấy tờ không có chứng nhận xác thực hoặc chỉ trình bày bằng miệng. Các văn bản công chứng bảo đảm sự an toàn của các giao dịch, tạo nên sự yên tâm tin tưởng của khách hàng, hạn chế đến mức thấp nhất các tranh chấp xảy ra. Về phương diện Nhà nước cũng đảm bảo trật tự, kỷ cương, ổn định trong việc quản lý các giao dịch; từ đó cũng góp phần làm giảm đáng kể việc giải quyết tranh chấp luôn là gánh nặng của các cơ quan chức năng và giúp các cơ quan chức năng quản lý tốt hơn các hoạt động giao dịch. Vì vậy công chứng cũng mang tính dịch vụ công ích, phục vụ cho hoạt động quản lý của cơ quan Nhà nước.

Kết quả hình ảnh cho giá trị pháp lý của văn bản công chứng

Giá trị pháp lý của văn bản công chứng được quy định tại Điều 5 của luật công chứng năm 2014, theo đó, văn bản công chứng mang giá trị thi hành và giá trị chứng cứ:

1. Giá trị thi hành

Theo khoản 2 Điều 5 Luật công chứng 2014 thì: “Hợp đồng, giao dịch được công chứng có hiệu lực thi hành đối với các bên liên quan; trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ của mình thì bên kia có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác”. Theo đó, nội dung đã được thỏa thuận trong văn bản công chứng sẽ có hiệu lực bắt buộc thi hành đối với các bên tham gia hợp đồng, giao dịch đồng thời với cả bên thứ ba. Bởi khi một hợp đồng, giao dịch được công chứng thì nó sẽ làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên như đã thỏa thuận trong nội dung của giao dịch, hợp đồng. Đồng nghĩa với việc một văn bản đã được công chứng có giá trị thi hành trên thực tế bởi sự tôn trọng và chấp hành những nội dung đã được thỏa thuận trong văn bản.
Ví dụ: khi một hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được các bên ký kết và công chứng thì các bên có liên quan như tổ chức hành nghề công chứng, cá nhân có liên quan cũng phải công nhận và làm các thủ tục cần thiết liên quan.
Bên cạnh đó, theo qui định tại khoản 4 Điều 5 Luật công chứng 2014 có quy định: “bản dịch được công chứng có giá trị sử dụng như giấy tờ, văn bản được dịch”. Như vậy, các bản dịch đã được công chứng tương đương với các văn bản, giấy tờ gốc được dịch. Khi các chủ thể đưa ra bản dịch được công chứng thì nó sẽ có giá trị tương đương với văn bản gốc được dịch và khi đó, các bản dịch được công chứng sẽ có hiệu lực đối với tất cả các chủ thể có liên quan, trừ trường hợp có vi phạm sảy ra trong quá trình công chứng như: có căn cứ cho rằng công chứng viên chưa kiểm tra tính chính xác của bản dịch mà đã công chứng, hay có sự câu kết giữa công chứng viên và người yêu cầu công chứng nhằm thực hiện cá hành vi vi phạm pháp luật,….
Như vậy, có thể thấy rằng văn bản công chứng không chỉ có hiệu lực thi hành đối với các bên tham gia mà còn có hiệu lực đối với bên thứ ba. Việc công chứng viên của tổ chức hành nghề công chứng tiến hành hoạt động công chứng hợp đồng, giao dịch, bản dịch buộc phải chịu trách nhiệm về tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch, bản dịch đó tức là chịu trách nhiệm cả về mặt nội dung và hình thức, cho nên một văn bản công chứng cũng có giả trị thi hành đối với bên thứ ba.
Xét trong mối quan hệ giữa các bên trong hợp đồng thì hiển nhiên là những gì họ đã cam kết trong hợp đồng, giao dịch thì họ có ngĩa vụ thực hiện, không được bội ước. Đó cũng là nguyên tắc trong luật dân sự, dó đó hiệu lực thi hành của văn bản công chứng không có gì mới trong pháp luật về công chứng. Nếu như trước đây tại một số văn bản quy định về công chứng quy định trong trường hợp một bên vi phạm nghĩa vụ thì bên còn lại có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền tiến hành giải quyết. Nhưng việc luật quy định một cách chung chung không cụ thể khiến cho việc thi hành gặp nhiều khó khăn. Vậy cơ quan có thẩm quyền ở đây là cơ quan nào? Luật công chứng 2014 đã khắc phục được hạn chế đó và tại quy định tại Điều 5 đã chỉ rõ cơ quan có thẩm quyền giải quyết trong trường hợp bên còn lại vi phạm nghĩa vụ là Tòa án. Việc quy định như vậy sẽ góp phần giúp cho việc thi hành pháp luật trở nên dễ dàng thuận lợi và thống nhất hơn.

2. Giá trị chứng cứ

Căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 5 Luật công chứng năm 2014 thì Hợp đồng, giao dịch được công chứng có giá trị chứng cứ; những tình tiết, sự kiện trong hợp đồng, giao dịch được công chứng không phải chứng minh, trừ trường hợp bị Tòa án tuyên bố là vô hiệu.
Trước hết, chứng cứ theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành chứng cứ được hiểu là những gì có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định mà Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà án dùng làm căn cứ để xác định hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội cũng như những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ án.
Cùng với đó, tại khoản 10 Điều 95 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015 cũng quy định: “Văn bản công chứng, chứng thực được coi là chứng cứ nếu việc công chứng, chứng thực được thực hiện theo đúng thủ tục do pháp luật quy định”. Tại khoản 1 Điều này cũng quy định rằng: “Tài liệu đọc được nội dung được coi là chứng cứ nếu là bản chính hoặc bản sao có công chứng, chứng thực hợp pháp hoặc do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cung cấp, xác nhận”.
Từ những quy định trên đã khẳng định rằng, văn bản công chứng có giả trị chứng cứ chứ không phải chứng minh. Cơ sở của quy định này xuất phát từ việc khẳng định vai trò chức năng của công chứng viên về chứng nhận tính xác thực của các hợp đồng, giao dịch cả về thời gian, địa điểm, hay nói cách khác là sự chứng nhận về mặt hình thức và chứng nhận cả về mặt nội dung của các hợp đồng, giao dịch và nội dung của các bản dịch.
Pháp luật đã quy định thủ tục tạo lập cũng như thông qua một văn bản công chứng khá chặt chẽ, phức tạp bao gồm một loạt các thủ tục tính từ khi Công chứng viên tiếp nhận ý chí của các bên giao kết hợp đồng, xác định tư cách chủ thể của các bên, kiểm tra năng lực hành vi dân sự của chủ thể, tính tự nguyện của các bên trong giao kết hợp đồng, xác định nguồn gốc hợp pháp của đối tượng hợp đồng, kiểm tra tính hợp pháp của hợp đồng,... Ngoài ra, văn bản công chứng được ghi lại dưới hình thức nhất định đồng thời cũng đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận nên rất rõ ràng. Văn bản công chứng được coi như là một phương tiện ghi nhận ý chí, sự thỏa thuận của các bên khi tham gia giao kết một hợp đồng, giao dịch cụ thể trên thực tế. Hơn nữa, bản thân công chứng viên được coi như một Thẩm phán phòng ngừa vì trước khi công chứng một hợp đồng, giao dịch nào đó đã phải xác minh, làm rõ các tình tiết, sự kiện có liên quan bằng các kiến thức cũng như kỹ năng nghề nghiệp của mình. Chẳng hạn, để công chứng một hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, Công chứng viên phải xác nhận sự tự nguyện của hai bên thông qua việc họ cùng có mặt tại Phòng Công chứng hoặc văn phòng công chứng vào thời điểm ký kết, xác minh rõ nguồn gốc của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là đối tượng của hợp đồng,...
Tuy nhiên, trên thực tế có những tình tiết, sự kiện phát sinh khiến cho một số văn bản công chứng mặc dù đã được công chứng nhưng sau đó mới phát hiện ra sự sai sót có thể là xuất phát từ công chứng viên hoặc có sự giả mạo, gian dối đối với những giấy tờ, tài liệu trước đó hoặc việc công chứng không phù hợp với quy định của pháp luật thì Tòa án có thể tuyên bố văn bản công chứng là vô hiệu. Chẳng hạn sau khi công chứng di chúc mới phát hiện tại thời điểm lập di chúc, người lập di chúc không còn minh mẫn nữa hay chữ ký trong di chúc là giả mạo, ... Khi đó, giá trị chứng cứ của văn bản công chứng sẽ không còn, đồng thời cũng không có giá trị thực hiện, không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng, giao dịch.
Một văn bản công chứng chỉ bị tuyên là vô hiệu khi hoạt động công chứng là trái pháp luật. Các văn bản công chứng có giá trị xác thực, giá trị pháp lý và độ tin cậy hơn hẳn các loại giấy tờ không có xác nhận xác thực hoặc chỉ trinh bày bằng miệng. Các văn bản công chứng bảo đảm sự an toàn của các giao dịch, tạo nên sự tin tưởng của khách hàng, hạn chế mức thâp nhất các tranh chấp có thể xảy ra. Về phương diện Nhà nước cũng đảm bảo trật tự, kỷ cương ổn định trong việc quản lý các giao dịch, từ đó góp phần làm giảm đáng kể việc giải quyết tranh chấp luôn là gánh nặng của cơ quan chức năng và giúp các cơ quan quản lý tốt hơn trong các hoạt động giao dịch.


Những lưu ý khi thay đổi cổ đông sáng lập trong công ty cổ phần

Trong mô hình doanh nghiệp dạng công ty cổ phần, vốn điều lệ của công ty được chia làm các phần bằng nhau được gọi là công ty cổ phần. Trước khi thành lập công ty, sẽ có ít nhất 3 người tham gia góp vốn để thành lập nên công ty cổ phần. Những người này được gọi là được những người sáng lập nên công ty và sẽ được sở hữu một số cổ phần phổ thông nhất định và tiến hành ký vào danh sách cổ đông sáng lập trước khi nộp cho cơ quan đăng ký kinh doanh tại thời điểm đăng ký thành lập. Vậy khi công ty muốn thay đổi cổ đông sáng lập này vì một lý do nào đó thì cần làm những thủ tục gì? Trong bài viết này, mình xin cung cấp thêm thông tin về thủ tục thay đổi cổ đông sáng lập trong công ty cổ phần để các bạn có cái nhìn chi tiết hơn.

Kết quả hình ảnh cho thay đổi cổ đông sáng lập

Theo quy định của pháp luật hiện hành, việc thay đổi cổ đông sáng lập của công ty phải được thông báo với cơ quan đăng ký kinh doanh. Đối với hồ sơ nộp cho cơ quan đăng ký kinh doanh, tùy vào từng trường hợp thay đổi mà hồ sơ sẽ có những giấy tờ khác nhau.

Trường hợp thay đổi cổ đông sáng lập do cổ đông sáng lập chưa thanh toán hoặc mới thanh toán được một phần số cổ phần đã đăng ký mua, công ty chỉ cần gửi thông báo cho cơ quan đăng ký kinh doanh. Thông báo này sẽ theo mẫu do bộ kế hoạch đầu tư quy định, gồm có những nội dung sau:

- Thông tin cơ bản của doanh nghiệp: tên, mã số thuế, mã số doanh nghiệp, nếu chưa có mã số doanh nghiệp và mã số thuế thì khai số giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh
- Thông tin xác minh của cổ đông sáng lập
- Họ và tên, một trong các giấy chứng thực cá nhân của người đại diện theo pháp luật của công ty.

Trường hợp thay đổi cổ đông sáng lập do chuyển nhượng cổ phần, ngoài thông báo ra còn thêm những giấy tờ sau:
- Danh sách thông tin của cổ đông sáng lập công ty sau khi đã thay đổi
- Hợp đồng chuyển nhượng hoặc giấy tờ chứng minh việc chuyển nhượng đã được hoàn tất.
- Nếu người nhận chuyển nhượng là nhà đầu tư nước ngoài thì phải có văn bản chấp thuận về việc góp vốn, mua cổ phần của sở kế hoạch đầu tư.

Trường hợp thay đổi cổ đông sáng lập là tổ chức bị sáp nhập hoặc tách, hợp nhất vào doanh nghiệp khác hay trường hợp thay đổi cổ đông do được tặng cho, thừa kế cổ phần thì giấy tờ gồm những giấy tờ giống như trường hợp thay đổi cổ đông sáng lập, tuy nhiên, thay hợp đồng chuyển nhượng bằng hợp đồng sáp nhập hoặc quyết định tách công ty hoặc hợp đồng hợp nhất doanh nghiệp đối với trường hợp chia, tách, hợp nhất doanh nghiệp, thay bằng văn bản chứng minh về việc thừa kế.

Hình thức nộp: có thể nộp trực tiếp hoặc nộp qua mạng. Đối với công ty có trụ sở ở Hà Nội thì bắt buộc phải nộp qua mạng trước.

Sau khi nhận được thông báo kèm theo giấy tờ có liên quan, cơ quan đăng ký kinh doanh sẽ kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ và trao giấy biên nhận cho doanh nghiệp và tiến hành thay đổi cổ đông sáng lập của công ty trong cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp. Khi đó, cổ đông chưa thanh toán số cổ phần sẽ không còn là cổ đông của công ty và bị xóa khỏi danh sách cổ đông sáng lập của công ty.
Trên đây là một số lưu ý về thủ tục thay đổi cổ đông sáng lập trong công ty cổ phần, hi vọng thông tin này sẽ giúp ích được cho các bạn.

Thứ Năm, 8 tháng 2, 2018

Một số lưu ý về thủ tục công bố thực phẩm thường theo quy định mới nhất

Nghị định 15/2018/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của luật an toàn thực phẩm ra đời đánh dấu sự thay đổi về thủ tục công bố sản phẩm. Theo quy định này thì các loại thực phẩm thông thường sẽ không phải làm thủ tục công bố trước khi lưu hành ra thị trường nữa. Theo đó, cơ quan có thẩm quyền sẽ đẩy mạnh sự kiểm tra, giám sát đối với những cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm thông thường này. Vậy sự thay đổi đó cụ thể như thế nào, trong bài viết này, mình xin cung cấp thêm cho các bạn thông tin về thủ tục công bố thực phẩm thường theo quy định của pháp luật hiện hành.

Kết quả hình ảnh cho điểm mới trong nghị định 15/2018

Hiện nay, quy định mới về công bố thực phẩm thường đã cắt giảm tối đa các thủ tục công bố, kiểm tra thực phẩm, chuyển từ hình thức tiền kiểm sang hậu kiểm, nghĩa là trước đây phải thực phẩm muốn được lưu hành trên thị trường phải được kiểm định chất lượng trước thông qua thủ tục công bố sản phẩm của cơ sở sản xuất, kinh doanh thì giờ đây, thực phẩm sẽ được lưu hành tự do mà không phải thông qua thủ tục công bố với cơ quan nhà nước có thẩm quyền nữa, thay vào đó, trong thời gian cơ sở sản xuất, kinh doanh đang lưu thông sản phẩm trên thị trường, cơ quan nhà nước sẽ tới cơ sở kiểm tra, nếu không đạt tiêu chuẩn về chất lượng sản phẩm theo quy đinh của pháp luật thì sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính tùy theo mức độ nghiêm trọng của hành vi vi phạm. Qua đó có thể thấy rằng việc điều chỉnh này đã tạo điều kiện nhất cho doanh nghiệp bởi doanh nghiệp sẽ không còn phải mất thời gian làm thủ tục công bố với cơ quan nhà nước trước khi đưa sản phẩm ra thị trường nữa, nhất là trong những ngày cuối năm, nhu cầu mua sắm của người dân tăng cao, doanh nghiệp phải gấp rút làm thủ tục công bố để kịp tiêu thụ sản phẩm trong dịp này. Đồng thời, nó cũng nâng cao trách nhiệm của các cơ sở sản xuất kinh doanh trong việc giữ vệ sinh an toàn thực phẩm, bởi cơ sở sản xuất kinh doanh có thể bị kiểm tra chất lượng sản phẩm bất cứ lúc nào trong quá trình sản xuất, kinh doanh nên vấn đề về chất lượng sản phẩm sẽ được cơ sở chú tâm hơn.

Tuy không phải làm thủ tục công bố với cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhưng doanh nghiệp vẫn phải làm thủ tục công bố sản phẩm của mình và chịu trách nhiệm trước pháp luật về thủ tục công bố đó. Thủ tục này không làm mất nhiều thời gian như thủ tục công bố với nhà nước và doanh nghiệp sẽ chủ động hơn trong việc sản xuất, kinh doanh sản phẩm của mình. Thủ tục tự công bố sản phẩm của doanh nghiệp được thực hiện như sau:

Về hồ sơ công bố, cần chuẩn bị những giấy tờ sau:
- Bản tự công bố sản phẩm theo mẫu theo quy định, cụ thể là mẫu 01 của phụ lục 1 ban hành kèm theo nghị định 15/2018/NĐ-CP.
- Phiếu kết quả kiểm nghiệm an toàn thực phẩm trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày được cơ quan có thẩm quyền cấp công nhận sản phẩm đủ chỉ tiêu an toàn. 

Sau khi chuẩn bị song những giấy tờ trên, cơ sở sản xuất, kinh doanh tự mình công bố trên phương tiện thông tin tại chúng hoặc tại trụ sở của mình, đồng thời nộp 1 bản cho cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền do UBND cấp tỉnh chỉ định. Có thể gửi qua đường bưu điện hoặc gửi trực tiếp.
Sau khi hoàn tất thủ tục trên, doanh nghiệp đươc sẽ được quyền sản xuất kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về độ an toàn của thực phẩm đó.

Trên đây là một số lưu ý về thủ tục công bố thực phẩm thường theo quy định mới nhất, hi vọng thông tin này sẽ giúp ích cho các bạn.

Thứ Tư, 7 tháng 2, 2018

Những vấn đề cần lưu ý khi tiến hành thủ tục nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài

Hiện nay, rất nhiều trường hợp muốn nhận nuôi con nuôi nhưng không biết nên làm thủ tục ra sao, nhất là những người ở quốc gia này nhưng lại muốn nhận con nuôi ở các quốc gia khác. Vậy việc nhận nuôi được thực hiện ở đâu, cần lưu ý những vấn đề gì? Trong bài viết này, mình xin cung cấp thêm cho các bạn những lưu ý cơ bản trước khi bạn tiến hành thủ tục nhận nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.
Kết quả hình ảnh cho nuôi con nuôi

1. Điều kiện, thủ tục, thẩm quyền giải quyết
Thứ nhất, về điều kiện nuôi con nuôi hợp pháp, cần xem quốc tịch của người nhận nuôi và của người được nhận làm con nuôi, nơi cư trú, điều kiện kinh tế của người nhận nuôi, hỏi xem liệu rằng họ có đủ điều kiện để đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, học tập cho người mà mình sẽ nhận nuôi hay không, tuổi của người nhận nuôi và tuổi của người được nhận làm con nuôi, quan hệ giữa người nuôi và người được nhận nuôi… để xem xét xem người đó có đủ điều kiện nhận nuôi con nuôi chưa. Bên cạnh đó, cần lưu ý rằng việc nhận nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài phải phù hợp với pháp luật Việt Nam và pháp luật của nước ngoài, tùy thuộc vào quốc tịch, nơi cư trú của người nhận nuôi và người được nhận làm con nuôi, nếu có điều ước quốc tế giữa Việt Nam với nước đó thì sẽ ưu tiên áp dụng Điều ước quốc tế trước.
Thứ hai, về thủ tục và thẩm quyền giải quyết, cần xem xét về vấn đề việc nhận nuôi con nuôi có thuộc trường hợp nhận nuôi đích danh hay không đích danh để tư vấn chính xác về thủ tục và thẩm quyền giải quyết, và hướng dẫn khách hàng làm hồ sơ, vì nếu nhận nuôi đích danh thì hồ sơ và thủ tục nộp hồ sơ sẽ khác so với nhận nuôi không đích danh. Hồ sơ, thẩm quyền nhận nuôi và thủ tục nhận nuôi sẽ tùy theo nơi người được nhận nuôi đang thường trú.

2. Áp dụng pháp luật về hệ quả pháp lý của việc nuôi con nuôi
Dựa vào quốc tịch hoặc nơi cư trú của người nhận nuôi để xác định về luật áp dụng, từ đó tìm hiểu về hệ quả pháp lý của việc nuôi con nuôi như: các quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con, giữa con nuôi và các thành viên khác của gia đình cha mẹ nuôi ; quyền và nghĩa vụ giữa con nuôi và cha mẹ ruột của con nuôi ; việc thay đổi họ tên của con nuôi ; xác định dân tộc cho con nuôi ;….

3. Giải quyết các yêu cầu và các tranh chấp về nuôi con nuôi
Việc giải quyết các yêu cầu và tranh chấp về nuôi con nuôi sẽ được giải quyết tại tòa án có thẩm quyền ở nơi mà người nhận nuôi đã đăng ký nhận nuôi con nuôi hoặc nếu chưa đăng ký thì có thể yêu cầu giải quyết tại một trong các tòa án mà đương sự đang cư trú.


Những vấn đề cần lưu ý khi làm thủ tục li hôn có yếu tố nước ngoài

Các vụ việc về li hôn diễn ra ngày càng nhiều đòi hỏi bạn cần phải bổ sung cho mình thêm kiến thức để bảo vệ quyền lợi của mình khi rơi vào tình trạng này, nhất là những vụ việc li hôn có yếu tố nước ngoài. bài viết này sẽ cung cấp thêm cho các những lưu ý khi thực hiện thủ tục li hôn có yếu tố nước ngoài.

Kết quả hình ảnh cho ly hôn

1. Thẩm quyền giải quyết li hôn

Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về hôn nhân gia đình được quy định tại Điều 28 BLTTDS trong đó có vấn đề li hôn, trừ những tranh chấp, yêu cầu mà có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải ủy thác tư pháp cho cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài, cho Tòa án, cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện. Những vụ việc có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài này sẽ thuộc thẩm quyền của tòa án nhân dân cấp tỉnh.
Như vậy khi xem xét về việc cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết li hôn có yếu tố nước ngoài, cần tìm hiểu rõ thông tin của vợ và chồng như: hai bên có ai đang ở nước ngoài không, hay có bất động sản ở nước ngoài hay không, từ đó xác định được tòa án có thẩm quyền giải quyết. Đơn li hôn sẽ được nộp tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc. Nếu tranh chấp bất động sản mà bất động sản có ở nhiều nơi khác nhau thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi có một trong các bất động sản giải quyết.

2. Vấn đề chia tài sản là bất động sản và người nuôi con, cấp dưỡng cho con chung

Thứ nhất, về vấn đề chia tài sản là bất động sản, cần xem xét xem tài sản của vợ chồng có những tài sản chung nào, tài sản riêng nào, nếu chưa biết xác định tài sản chung và tài sản riêng thì có thể căn cứ quy định tại Điều 33, Điều 43 Luật HNGĐ để xác định tài sản chung và tài sản riêng, từ các tài sản chung đã xác định đó, cần xác định tài sản nào là động sản, những tài sản nào là bất động sản. Nếu họ có bất động sản ở nước ngoài thì việc giải quyết tài sản là bất động sản ở nước ngoài tuân theo pháp luật của nước nơi có bất động sản (khoản 3 Điều 127 Luật HNGĐ 2014). Và họ cũng có thể tự thỏa thuận với nhau về việc chia tài sản mà không cần yêu cầu tòa án chia tài sản chung, bởi pháp luật của một số nước như Việt Nam, khi yêu cầu tòa án chia tài sản chung thì hai bên sẽ phải mất tiền án phí cho tòa án tương ứng với giá trị của tài sản chung.

Thứ hai, về vấn đề nuôi con và cấp dưỡng cho con: ưu tiên sự thỏa thuận của cha mẹ, luật áp dụng có thể theo nơi cư trú hoặc nơi có quốc tịch của 2 bên nhưng phải dựa trên nguyên tắc có lợi cho đứa trẻ. Tuy nhiên, cũng cần tìm hiểu thêm thông tin:
- Địa chỉ của cha mẹ, công việc của cha mẹ, điều kiện kinh tế của hai bên như thế nào? Có khả năng đáp ứng được đầy đủ điều kiện sống và học tập của con mình hay không.
- Tình cảm giữa con cái và cha mẹ như thế nào, có bên nào không có trách nhiệm chăm sóc được cho con hay không
- Điều kiện học tập của đưa trẻ, nhu cầu học tập, nhu cầu sống của đứa trẻ
Những thông tin này sẽ giúp xác định xem đứa con ở với ai là tốt nhất.


Thứ ba, về cấp dưỡng cho con chung: hai bên có thể tự thỏa thuận mức cấp dưỡng cho con chung, tuy nhiên, nếu hai bên không thỏa thuận được thì họ có thể yêu cầu tòa án xác định mức cấp dưỡng cho con chung.

Trên đây là một số lưu ý về thủ tục li hôn có yếu tố nước ngoài, hi vọng thông tin này sẽ giúp ích cho các bạn.